VN EN
Thư viện
GIÁM ĐỐC SÁNG TẠO
GIÁM ĐỐC SÁNG TẠO
CREATIVE DIRECTOR - GIÁM ĐỐC SÁNG TẠO Một đặc điểm rất khác của thời trang so với những ngành khác đó là khách hàng, truyền thông và cộng đồng thể hiện sự quan tâm rất lớn đến chiếc ghế quyền lực của từng nhà mốt - Giám đốc sáng tạo (Creative Director - CD). Vì đây là những người sẽ định hướng sáng tạo cho những BST mỗi mùa, thông qua moodboard, ý tưởng thiết kế, concept, chất liệu sáng tạo…Bên cạnh đó, họ còn là người truyền lửa, kích thích cũng như thúc đẩy tinh thần của cả Êkíp. Một người giám đốc sáng tạo phải dung hoà được sự thống nhất về đặc trưng của thương hiệu qua các mùa của BST trong tương quan với ý niệm cá nhân và cái tôi của mình. Chẳng hạn như khi xì ke chúa Hedi Slimane rời Dior Homme đến SLP rồi hiện tại là đến với mái vòm của Celine, người ta vẫn thấy ngấp nghé đâu đó bóng hình của Hedi - SKINNY (gầy, size zero) trong sản phẩm qua từng thời kỳ của các thương hiệu này nhưng vẫn đảm bảo được những đặc điểm cốt lõi của thương hiệu. Điều này cũng tương tự như phải cân bằng giữa thương mại và sáng tạo, giờ đây phải cân bằng giữa cái tôi (ego) và giá trị cốt lõi của thương hiệu (brand essence) Công việc của một CD sẽ diễn ra như sau: Ở giai đoạn đầu của quá trình, bộ phận phát triển kinh doanh, Marketing, Sales phải luôn làm việc cùng giám đốc sáng tạo để hiểu về khách hàng mục tiêu, đặc tính thương hiệu và được định hướng, tạo moodboard, ý tưởng thiết kế, lên concept nhằm phát triển sản phẩm phù hợp. Từ đó, vị trí tiếp theo là Thiết kế thời trang sẽ cho ra bản phác thảo ý tưởng như form dáng, vải, màu sắc…rồi luân chuyển tiếp đến cho các công đoạn sau trong quy trình. Sau khi hoàn thiện được sản phẩm mẫu, CD sẽ cùng ngồi lại với bộ phận kỹ thuật để chỉnh sửa, fitting, may mẫu…và cùng thảo luận với team Marketing-Sales để đánh giá tính khả thi, phù hợp với khách hàng và đưa ra những chiến lược phù hợp để tung BST. Điều thú vị ở vị trí CD là bạn phải luôn khiêm tốn đề trau dồi, học hỏi nhằm tìm ra những chất liệu sáng tạo cho mình.Năm 2004 John Galliano trình làng BST làm điên đảo thế giới Haute Couture. BST lấy cảm hứng từ nền văn hoá Ai Cập cổ đại sau chuyến đi của ông đến Thung lũng các vị Vua (Valley of the Kings), Cairo, Aswan, và Luxor. Những năm 1940 – 1950, những chiếc đầm ball gown với kiểu gấp (fold) đặc trưng của thời trang thời Victoria của Charles James đã làm khuynh đảo tầng lớp thượng lưu một thời. Nhìn lại hiện tại, chúng ta đều biết đến nhà thiết kế Karl Lagerfeld thuộc nhà mốt đình đám Chanel, nhưng chúng ta có biết ông có hẳn 1 ngôi nhà dùng là thư viện cá nhân? Với trung bình 17 BST mỗi năm, ông lấy đâu ra tư liệu và cảm hứng sáng tạo để chuẩn bị cho khoảng 1020 trang phục và phụ kiện lên sàn catwalk? Vị trí này có thể bắt đầu từ thiết kế rập, thợ may, thiết kế thời trang…miễn là bạn trau dồi cả kinh nghiệm về kỹ thuật, tư duy thiết kế, những chất liệu và kiến thức cần thiết. Thời gian rơi vào khoảng 10 năm. Bạn cần có kỹ năng kiên trì, nhẫn nại và đam mê trong công việc. Phải có khả năng truyền tải để tinh thần, và thông điệp mình mong muốn không chỉ đến với khách hàng qua những thiết kế mà cả Êkíp đang đồng hành cùng mình phải cảm nhận được. Vì là người nắm giữ đầu tàu nên việc khai thác điểm mạnh, yếu của từng người cũng phải được đánh giá dưới góc nhìn của người CD. Mỗi người có kiến thức, đam mê và mong muốn khác nhau nên để liên kết họ cùng làm việc là một điều rất khó, đặc biệt là giúp họ phát triển tới các giới hạn của chính mình. Khi đó mình có thể thấy được sự cố gắng cũng như thành quả mà họ tạo ra, trách nhiệm cũng được xem là một niềm vui khi ở vị trí này. Chi tiết về vị trí Giám đốc sáng tạo cũng như Quy trình 12 vị trí trong ngành thời trang sẽ được trình làng trong thời gian tới qua những thước phim do VFA và một tổ chức đặc biệt cùng bắt tay thực hiện nhéCREATIVE DIRECTOR - GIÁM ĐỐC SÁNG TẠO - Chính xác là làm gì ? - Một đặc điểm rất khác của thời trang so với những ngành khác đó là khách hàng, truyền thông và cộng đồng thể hiện sự quan tâm rất lớn đến chiếc ghế quyền lực của từng nhà mốt - Giám đốc sáng tạo (Creative Director - CD). Vì đây là những người sẽ định hướng sáng tạo cho những BST mỗi mùa, thông qua moodboard, ý tưởng thiết kế, concept, chất liệu sáng tạo…Bên cạnh đó, họ còn là người truyền lửa, kích thích cũng như thúc đẩy tinh thần của cả Êkíp. Một người giám đốc sáng tạo phải dung hoà được sự thống nhất về đặc trưng của thương hiệu qua các mùa của BST trong tương quan với ý niệm cá nhân và cái tôi của mình. Chẳng hạn như khi xì ke chúa Hedi Slimane rời Dior Homme đến SLP rồi hiện tại là đến với mái vòm của Celine, người ta vẫn thấy ngấp nghé đâu đó bóng hình của Hedi - SKINNY (gầy, size zero) trong sản phẩm qua từng thời kỳ của các thương hiệu này nhưng vẫn đảm bảo được những đặc điểm cốt lõi của thương hiệu. Điều này cũng tương tự như phải cân bằng giữa thương mại và sáng tạo, giờ đây phải cân bằng giữa cái tôi (ego) và giá trị cốt lõi của thương hiệu (brand essence) Công việc của một CD sẽ diễn ra như sau: Ở giai đoạn đầu của quá trình, bộ phận phát triển kinh doanh, Marketing, Sales phải luôn làm việc cùng giám đốc sáng tạo để hiểu về khách hàng mục tiêu, đặc tính thương hiệu và được định hướng, tạo moodboard, ý tưởng thiết kế, lên concept nhằm phát triển sản phẩm phù hợp. Từ đó, vị trí tiếp theo là Thiết kế thời trang sẽ cho ra bản phác thảo ý tưởng như form dáng, vải, màu sắc…rồi luân chuyển tiếp đến cho các công đoạn sau trong quy trình. Sau khi hoàn thiện được sản phẩm mẫu, CD sẽ cùng ngồi lại với bộ phận kỹ thuật để chỉnh sửa, fitting, may mẫu…và cùng thảo luận với team Marketing-Sales để đánh giá tính khả thi, phù hợp với khách hàng và đưa ra những chiến lược phù hợp để tung BST. Điều thú vị ở vị trí CD là bạn phải luôn khiêm tốn đề trau dồi, học hỏi nhằm tìm ra những chất liệu sáng tạo cho mình.Năm 2004 John Galliano trình làng BST làm điên đảo thế giới Haute Couture. BST lấy cảm hứng từ nền văn hoá Ai Cập cổ đại sau chuyến đi của ông đến Thung lũng các vị Vua (Valley of the Kings), Cairo, Aswan, và Luxor. Những năm 1940 – 1950, những chiếc đầm ball gown với kiểu gấp (fold) đặc trưng của thời trang thời Victoria của Charles James đã làm khuynh đảo tầng lớp thượng lưu một thời. Nhìn lại hiện tại, chúng ta đều biết đến nhà thiết kế Karl Lagerfeld thuộc nhà mốt đình đám Chanel, nhưng chúng ta có biết ông có hẳn 1 ngôi nhà dùng là thư viện cá nhân? Với trung bình 17 BST mỗi năm, ông lấy đâu ra tư liệu và cảm hứng sáng tạo để chuẩn bị cho khoảng 1020 trang phục và phụ kiện lên sàn catwalk? Vị trí này có thể bắt đầu từ thiết kế rập, thợ may, thiết kế thời trang…miễn là bạn trau dồi cả kinh nghiệm về kỹ thuật, tư duy thiết kế, những chất liệu và kiến thức cần thiết. Thời gian rơi vào khoảng 10 năm. Bạn cần có kỹ năng kiên trì, nhẫn nại và đam mê trong công việc. Phải có khả năng truyền tải để tinh thần, và thông điệp mình mong muốn không chỉ đến với khách hàng qua những thiết kế mà cả Êkíp đang đồng hành cùng mình phải cảm nhận được. Vì là người nắm giữ đầu tàu nên việc khai thác điểm mạnh, yếu của từng người cũng phải được đánh giá dưới góc nhìn của người CD. Mỗi người có kiến thức, đam mê và mong muốn khác nhau nên để liên kết họ cùng làm việc là một điều rất khó, đặc biệt là giúp họ phát triển tới các giới hạn của chính mình. Khi đó mình có thể thấy được sự cố gắng cũng như thành quả mà họ tạo ra, trách nhiệm cũng được xem là một niềm vui khi ở vị trí này.
12 Vị trí trong ngành thời trang
12 Vị trí trong ngành thời trang
📙 HỌC THỜI TRANG, LÀM ĐƯỢC GÌ ? 📙 Vẫn câu nói đó “Thời trang là một ngành công nghiệp và học thời trang không nhất thiết phải trở thành nhà thiết kế” Để nhắc đến một ngành công nghiệp, chúng ta có những bên cung cấp nguyên vật liệu để sản xuất (Supplier Chain - B2B), cụ thể là vải, sợi, phụ liệu, phụ kiện… Tiếp đến là quy trình tạo ra một BST cần những quy trình gì, sau đến là làm thế nào để đẩy các sản phẩm ra thị trường ? Hình dung được chuỗi giá trị đó, bạn sẽ biết học thời trang thì làm được gì ? Hôm nay VFA sẽ điểm qua 12 vị trí trong quy trình thiết kế BST cho đến tung ra thị trường 📙 Back End: 1. Giám đốc sáng tạo (Creative Director) 2. Thiết kế sản phẩm/Thiết kế thời trang (Product Design/Fashion Designer) 3. Kỹ thuật viên rập 4. Kỹ thuật viên cắt 5. Kỹ thuật viên may 6. Xưởng may, gia công 📙 Front End: 7. Nhân viên phát triển kinh doanh (BD) 8. Nhân viên Marketing & Nhân viên truyền thông ( PR ) 9. Trợ lý bán hàng và CSKH 10. Retail & Wholesale 11. Merchandiser 12. Operation (Retail & Admin) Nhiệm vụ và vai trò của 2 chuỗi front và back này hoàn toàn riêng biệt về mặt chuyên môn cũng như các yêu cầu về tố chất cần thiết. Tuy nhiên, họ buộc phải có sự phối hợp nhịp nhàng với nhau nếu muốn thực hiện được một BST. Ví dụ như 3 bộ phận BD, MKT và Sales luôn làm việc cùng nhau để hiểu khách hàng (nhu cầu, mong muốn), từ đó phát triển những chiến lược, kế hoạch MKT, Sales nhất quán và song hành. Quan trọng hơn hết, các bộ phận này từ giai đoạn ban đầu sẽ làm việc cùng với CD để hiểu rõ nhất về định hướng của BST có phù hợp với khách hàng mục tiêu và truyền tải được tinh thần của thương hiệu hay không Hoặc Merchandiser phải làm việc từ ban đầu với bộ phận Rập, cắt, may để hiểu về chất liệu, quy trình sản xuất, tạo cơ sở cho các đơn đặt hàng về sau. Thông tin cụ thể và chi tiết của từng vị trí sẽ được bật mí trong một dự án sắp tới. Mọi người hãy cùng đón chờ xem và cho mình câu trả lời “Đâu mới là hướng đi phù hợp với bản thân”
A-line
A-line
A-line là tên một cấu trúc phom dáng hình tam giác, thường bắt đầu vừa khít từ eo và rộng dần xuống hết đường viền chân váy. Kiểu dáng này gợi liên tưởng đến hình dáng chữ A viết hoa. Khái niệm A-line lần đầu tiên được đưa ra bởi Chritian Dior vào năm 1955 khi ông mô tả về form dáng trong bộ sưu tập A-line mùa hè. Sau đó, trong bộ sưu tập đầu tiên của Yves Saint Laurent cho nhà mốt của mình năm 1958, ông đã phát triển A - line thành Trapeze Line (hình thang), bắt đầu từ vai thay vì eo như nguyên bản
Almond-toe shoe
Almond-toe shoe
Bạn có thể chưa bao giờ nghe đến khái niệm "giày mũi quả hạnh" nhưng thực tế đó là mũi giày phổ biến nhất. Nó không quá nhọn, tròn hoặc vuông. Cái tên này xuất phát từ hình dáng quả hạnh của shoe cap (phần da thêm ở mũi giày) - giúp mũi giày mềm hơn và có đường cong thon gọn hơn.
Appliqué
Appliqué
Appliqué là một kỹ thuật phổ biến, đặc biệt trong các dòng sản phẩm haute couture và demi couture. Một tấm vải, thường là vải trơn, sẽ được đặt trên một tấm khác để tạo ra những hoa văn, hoạ tiết hay kết cấu tương phản độc đáo. Về bản chất, nó là nghệ thuật sắp xếp vải (còn gọi là fabrics collaging hoặc layering). Appliqué bắt nguồn từ kỹ thuật "vá trang phục" truyền thống.
Armscye
Armscye
Armscye (cách viết khác: arm scythe và đọc là "Arm's eye") là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Scotland. Nó dùng để chỉ phần mở vòng nách (armhole) trên trang phục và cũng là thuật ngữ may mặc chỉ hình dáng phần rập thiết kế vòng nách. Nếu xét trên phương diện giải phẫu học trang phục, armscye là phần ráp cánh tay vào.
Babushka Hood
Babushka Hood
Babushka Hood là chiếc khăn choàng của phụ nữ. Thông thường, Badbuska Hood có hình tam giác, buộc lại ở dưới cằm (giống như búp bê Nga). Chất liệu vải đa dạng từ lụa đến plastic, và có phần "hood" (mũ) trùm lên trên đỉnh đầu.
Bar Fagoting
Bar Fagoting
Fagoting là một kỹ thuật thêu bắt chéo, có thể thêu bằng tay hoặc sự dụng máy chuyên dụng. Mục đích của nó là để trang trí khoảng trống giữa hai mép vải đã được hoàn thành. Bar Fagotting là kỹ thuật thêu đơn giản nhất.
Bar jacket
Bar jacket
Bar jacket là kiểu jacket mang tính biểu tượng được thiết kế bởi Christian Dior cho "Ligne Corolle" của ông ấy vào năm 1947 từ show diễn nổi tiếng mà Carmel Snow gọi là "The New Look". Chiếc jacket này có hình dáng mềm mại, với vai tròn nghiêng, eo nhỏ và đệm ở hông. Nó được xem là một biểu tượng của nhà mốt này.
Basting
Basting
May lược chỉ (basting) là một giai đoạn chuẩn bị quan trọng. May lược chỉ tức là may chỉ dài, lỏng để đánh dấu và tạm cố định các chất liệu trên trang phục vào vị trí cuối cùng của nó. Khi thử mẫu trước khi may, cách may lược chỉ này chuyên nghiệp và thoải mái hơn nhiều so với việc dùng kim đánh dấu.
Batwing
Batwing
Tay áo cánh dơi còn được biết đến với cái tên tay áo "Dolman" hay "Magyar". Tay áo dài, cắt rộng ở vai với vòng nách sâu, khiến cổ tay áo thon và mỏng, tạo cảm giác giống như đôi cánh. Kiểu tay áo này lấy cảm hứng từ y phục thời trung cổ: giống chiếc áo choàng rộng với tay áo được gấp từ vải. Áo cánh dơi không phổ biến trong thế chiến I và II vì chính sách tiết kiệm vải cho chiến tranh. Nó quay trở lại vào những năm 1940 với phong trào nữ tính, sau được đổi tên thành Tay áo cánh dơi vào những năm 80 nhờ Madonna.
Bias cut
Bias cut
Bias cut có nghĩa là “cắt trên sớ vải - chiều xéo”. Đây là thuật ngữ chỉ kỹ thuật cắt xéo vải. Thay vì dựa theo hướng dệt thẳng, thợ cắt sẽ đặt rập nghiêng một góc 45o trên vải rồi cắt (cắt xéo so với đường biên vải). Tại góc độ này, các đường dệt sẽ giúp vải có “độ co dãn” mềm mại, làm nổi bật đường nét cơ thể, tạo nên những đường cong rủ uyển chuyển hay đường xếp nếp mềm mại. Kỹ thuật này được thành tựu vào những năm 1920s bởi Madeleine Vionnet và trở thành phong cách tiêu biểu của John Galliano sau này.